Sản xuất đậu trạch an toàn

  • Giá thị trường: Liên hệ
    1. Kỹ thuật sản xuất
    2. Thời vụ

    Đậu trạch trồng tháng 8 đến tháng 4: vụ thu gieo tháng 8 – 9, vụ đông gieo tháng 10 – 11, vụ xuân gieo tháng 1 – 4.

    1. Giống

    Sử dụng các giống chất lượng cao, có nguồn gốc rõ ràng, được cung ứng từ các cơ sở có uy tín.

    Giống đậu trạch TL1, VA.009, Đài Loan hạt đen, Thái – Chiatai, Nhật – Takii, Trang Nông, 2 Mũi Tên Đỏ, GS 012, CH 551,…

    Lượng hạt giống: 1,0 – 1,2 kg/sào (khoảng 30 – 35 kg/ha).

    1. Làm đất

    Đất trồng phải đảm bảo đủ điều kiện cho sản xuất rau an toàn theo qui định tại mục II của quy trình này. Lên luống cao 30cm, khoảng cách luống rộng 1,4 m (rãnh đến rãnh), mặt luống rộng tối thiểu 40cm, dễ thoát nước. Sau mỗi vụ nên giữ nguyên luống, cho nước ngập luống khoảng 10 ngày và có thể sử dụng máy xới mini làm đất trên mặt luống. Có thể che phủ nilon mặt luống để giữ ẩm, hạn chế cỏ dại.

    1. Mật độ trồng

    Gieo 2 hàng/luống với khoảng cách 60cm x 25 – 30cm, gieo 3 hạt/hốc, khi cây được 2 -3 lá thật loại bỏ 1 cây xấu. Gieo hạt xong phủ một lớp đất mỏng và phủ rơm rạ, trấu mỏng trên mặt luống, sau đó dùng ô doa tưới nước đủ ẩm.

    1. Bón phân
    2. a) Biện pháp chỉ dùng phân hữu cơ: có thể lựa chọn các loại phân hữu cơ và liều lượng bón

    – Liều lượng bón:

    Bột đậu tương (hoặc khô dầu đậu tương) 30 – 40 kg/sào (800 -1.100 kg/ha) và ngô bột 10 – 15 kg/sào (300 – 450 kg/ha).

    Hoặc phân hữu cơ nguồn gốc động vật xử lý nhiệt (như Fetiplus, Melgert, Nature,…): 20 – 40 kg/sào (550 – 800kg/ha) và ngô bột 10 – 15 kg/sào (300 – 450 kg/ha).

    Hoặc phân chuồng ủ hoai mục 500 – 600 kg/sào (15.000 – 17.000 kg/ha) và ngô bột 10 – 15 kg/sào (300 – 450 kg/ha).

    Tùy theo cây trồng và lượng bón vụ trước để tăng hoặc giảm lượng đậu tương.

    – Phương pháp bón:

    Bột đậu tương (hoặc khô dầu đậu tương), phân hữu cơ nguồn gốc động vật  xử lý nhiệt và ngô bột  bón lót 100% khi làm đất (lưu ý không bón trực tiếp vào cây).

    Phân chuồng ủ hoai mục: Bón làm 2 đợt, đợt 1 bón lót 70%, đợt 2 bón thúc lượng còn lại khi cây bắt đầu có nụ hoa. Tùy theo tình trạng của cây trồng, điều kiện đất đai mà có thể bổ sung dinh dưỡng cho cây bằng cách ngâm phân hữu cơ ủ hoai mục với nước hoặc chắt dịch ngâm hòa loãng với nước để tưới bổ sung cho cây.

    Luân canh với cây đậu tương để cải tạo đất. Khi thu hoạch đậu tương tiến hành cày vùi toàn bộ với nơi thuận lợi nguồn nước hoặc ủ với nơi không thuận lợi nguồn nước.

    1. b) Biện pháp có dùng phân hóa học

    Liều lượng: phân chuồng ủ hoai 250 – 300 kg/sào (7.000 – 8.500 kg/ha), hoặc phân hữu cơ vi sinh 35 – 40 kg/sào (980 – 1.200 kg/ha); đạm urê 7 – 8 kg/sào (200 – 220 kg/ha); super lân 12 – 15 kg/sào (330 – 420 kg/ha); kali 5 – 6 kg/sào (140 – 170kg/ha); NPK(5:10:3): 30 – 35 kg/sào (850 – 980kg/ha).

    Phương pháp bón: bón lót 100% phân chuồng ủ hoai, 25% lân super, 50% kali, 25% NPK. Bón thúc lần 1 (khi cây cây có 3 – 4 lá thật): 10% urê. Bón thúc lần 2 (khi có nụ hoa): 40% phân hữu cơ vi sinh, 30% urê, 25% lân super, 30% NPK. Bón thúc lần 3 (sau thu quả đợt 1): 30% phân hữu cơ vi sinh, 30% urê, 25% lân super, 25% kali, 25% NPK. Bón thúc lần 4 (sau bón thúc lần 3 từ 15 – 20 ngày): 30% phân hữu cơ vi sinh, 30% urê, 25% kali, 25% super lân, 20% NPK. Lưu ý bón đạm urê trước khi thu hoạch ít nhất 7 ngày.

    1. Tưới nước và chăm sóc

    Sử dụng nguồn nước đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định tại mục II của quy trình này. Tưới nước đủ ẩm từ sau khi trồng đến khi thu hoạch. Tiêu nước kịp thời khi ngập úng. Áp dụng biện pháp tưới rãnh hoặc tưới nhỏ giọt.

    Khi cây được 2 – 3 lá thật xới phá váng, khi cây được 5 – 6 lá thật xới xáo và vun gốc trước khi cắm giàn. Cắt tỉa lá già, loại bỏ lá bị sâu bệnh nặng tạo cho ruộng thông thoáng, hạn chế sâu bệnh.

    7. Làm giàn

    Bắt đầu làm giàn khi cây 5 – 6 lá thật, làm giàn kiểu chữ A, thân đậu leo dài hơn 3m nên cây dèo dài 2,5 – 3m. Một sào cần 1400 – 1600 cây dèo (dóc), mỗi hốc cắm 1 cây dèo, 1 giàn có từ 2 – 3 nẹp ngang. Thân đậu trạch vươn lên rất nhanh nên phải buộc cây vào giàn dọc theo cây dèo, cứ 2 – 3 ngày buộc 1 lần.

    1. Phòng trừ sâu bệnh

    Các đối tượng sâu bệnh hại chính: rệp, bọ trĩ, dòi đục lá, sâu khoang, sâu xám, sâu đục quả, bệnh phấn trắng, gỉ sắt.

    1.   a) Biện pháp canh tác, thủ công:

    Luân canh đậu trạch với cây cải xanh, khi cây cải xanh ra hoa cày vùi kết hợp ngâm nước khoảng 10 ngày để hạn chế sâu bệnh trong đất.

    Sử dụng nấm đối kháng Trichoderma ủ với phân hữu cơ hoai mục.

    Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại, tàn dư cây trồng kết hợp sử dụng các chế phẩm sinh học EMINA, BIOEM, EM,… để ủ.

    Ngắt bỏ lá bị bệnh hại, ngắt ổ trứng, bắt giết sâu non (sâu xám bắt vào buổi tối).

    Tạo môi trường thuận lợi cho thiên địch phát triển, dẫn dụ, xua đuổi côn trùng gây hại như: hoa cúc, hướng dương, soi nhái, sen cạn, ba lá, linh lăng, húng, bạc hà, hành, tỏi, xả, gừng,…trồng xen vào các luống rau hoặc đầu luống rau.

    Bẫy chua ngọt trừ trưởng thành họ ngài đêm (sâu khoang, sâu xám,…):

    Cách làm bẫy: hỗn hợp 4 phần mật (đường) + 4 phần dấm + 1 phần rượu + 1 phần nước + thuốc trừ sâu khuấy kỹ. Chứa vào xô nhựa, can nhựa đậy kín, sau 3 – 4 ngày bốc mùi chua ngọt thì đem ra sử dụng. Vật liệu đựng bẫy: làm bằng hộp nhựa, chai nhựa (đường kính, chiều cao, thể tích phù hợp thực tế) trên thành hộp đục các lỗ tròn có đường kính 2 – 3cm.

    Sử dụng: 0,1 – 0,15 lít/hộp, 3 – 5 bẫy/sào hoặc có thể sử dụng bùi nhùi bằng rơm nhúng bả sau đó cắm trên ruộng.

    Sử dụng bẫy dính màu vàng, màu xanh để thu hút trưởng thành có cánh như ruồi đục lá, rệp, bọ trĩ.

    Cách làm và sử dụng bẫy: dùng một mặt phẳng màu vàng hoặc màu xanh có kích thước 50x30cm, quét chất bám dính (dầu dính côn trùng hoặc nhựa thông,…) lên hai mặt. Treo trực tiếp bẫy vào giàn, treo ở rìa tán cây với khoảng cách 10 mét 1 bẫy. Thời gian thay bẫy hoặc quét thêm chất bám dính tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết, mật độ sâu đã dính vào bẫy, trung bình 3 – 5 ngày quét thêm chất bám dính, 20 ngày thay bẫy mới.

    1. b) Biện pháp sử dụng thuốc BVTV:

    Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm bệnh, điều tra phát dục sâu hại, dự tính thời gian trưởng thành, sâu non rộ. Dự báo mức độ bệnh hại để hướng dẫn phòng trừ đúng thời điểm. Sử dụng thuốc ít độc, thời gian cách ly ngắn (sinh học, thảo mộc) khi mật độ sâu, tỷ lệ bệnh cao.

    Xử lý các loại thuốc khi mật độ : rệp, bọ trĩ, dòi đục lá: >30% cây bị nhiễm ở cấp 1 – 2; sâu khoang: > 5 con/m2; bệnh phấn trắng, gỉ sắt: >30% lá bị bệnh cấp 1 – 3; sâu đục quả: > 10% nụ, hoa, quả.

    Lựa chọn, xử lý bằng các loại thuốc sinh học, thảo mộc, thuốc có thời gian cách ly ngắn như trong các loại thuốc sau:

    Sâu khoang sử dụng thuốc: Chlorantraniliprole (Dupont Prevathon 5SC…); Spinetoram (Radiant 60SC…); Indoxacarb (Dupont Ammate 150SC…);  Lufenuron (Match 050EC…); Emamectin benzoate (Susupes 1.9EC, Dylan 2EC…); Emamectin benzoate + Matrine (Rholam super 100WG, Mectinstar 1EC…).

    Sâu đục quả sử dụng thuốc: Bacillus thuringiensis var.kurstaki (Delfin WG, Crymax 35 WP, Bitadin WP, Aizabin WP…); Abamectin (Kuraba WP…); Chlorantraniliprole (Dupont Prevathon 5SC…).

    Dòi đục lá sử dụng thuốc: Dinotefuran (Oshin 20WP, Chat 20WP…); Spinetoram (Radiant 60SC…); Indoxacarb (Dupont Ammate 150EC,…); Abamectin + Petroleum oil (Soka 25EC, Batas 25EC, Aramectin 250EC,…); Chlorantraniliprole (Dupont Prevathon 5SC…).

    Bọ trĩ, rệp sử dụng thuốc: Matrine (Agri one 1SL, Marigold 0.36SL, Sokupi 0.36SL, 0.5SL…); Thiamethoxam (Actara 25WG, Fortaras 25WG…); Abamectin (Silsau 3.6EC, Reasgant 1.8EC,…), Emamectin benzoate (Susupes 1.9EC, Dylan 2EC…); Dinotefuran (Oshin 20WP, Chat 20WP…).

    Bệnh phấn trắng sử dụng thuốc: Chlorothalonil (Daconil 75WP, Chionil 750WP, Arygreen 75 WP…); Fosetyl-aluminium (Aliette 800 WG, Juliet  80 WP…); Cymoxanil + Mancozeb (Carozate 72WP, Xanized 72WP…); Bacillus subtilis (Bionite WP…).

    Bệnh gỉ sắt sử dụng thuốc: Difenoconazole (Score 250EC…); Chlorothalonil (Daconil 75WP, Chionil 750WP, Arygreen 75 WP…); Azoxystrobin + Difenoconazole (Amistar top 325SC, …).

    Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng. Vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng phải được thu gom vào đúng nơi qui định.

    1. Thu hoạch

    Sau khi trồng 50 – 55 ngày bắt đầu thu hoạch, lứa 4-5 thu rộ cách 1 ngày thu 1 lần; sau đó 2-3 ngày thu 1 lần, có thể thu 10 – 12 lứa tùy theo chăm sóc.

    Thu hoach đúng lúc khi quả có màu xanh mượt và hạt mới tượng, nếu để quả già sẽ cứng, có nhiều xơ, phẩm chất kém, thu hoạch xong không để dập nát, để nơi khô mát, sau đó đóng vào bao bì sạch để vận chuyển đến nơi tiêu thụ.

    1. Tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm và điều kiện sản xuất (được áp dụng theo QCVN 01-132:2013/BNNPTNT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với rau, quả, chè búp tươi đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, sơ chế).
    2. Chất lượng sản phẩm

    – Mức giới hạn tối đa về kim loại nặng trong rau theo quy định tại QCVN 8-2:2011/BYT.

    – Mức giới hạn tối đa về thuốc bảo vệ thực vật và hoá chất khác theo Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT; trường hợp chưa có quy định trong Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT thì áp dụng theo Thông tư số 68/2010/TT-BNNPTNT.

    1. Đất trồng

    – Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất dưới ngưỡng cho phép: Asen (As): ≤ 15,0 mg/kg đất khô; Cadimi (Cd): ≤ 1,5 mg/kg đất khô; Chì (Pb): ≤ 70,0 mg/kg đất khô; Đồng (Cu): ≤ 100,0 mg/kg đất khô; Kẽm (Zn): ≤ 200 mg/kg đất khô; Crom (Cr): ≤ 150,0 mg/kg đất khô.

    – Đất trồng không chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nguồn gây ô nhiễm như bãi rác, khu dân cư, nghĩa trang, bệnh viện,… (xa nhà máy hóa chất ít nhất 2 km, xa đường quốc lộ ít nhất 50m).

    1. Nước tưới

    Hàm lượng của một số kim loại nặng trong nước dưới ngưỡng cho phép: Thuỷ ngân (Hg): ≤ 0,001 mg/lít; Cadimi (Cd): ≤ 0,01 mg/lít; Asen (As): ≤ 0,05 mg/lít; Chì (Pb): ≤ 0,05 mg/lít.